BỘ CÔNG THƯƠNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO

Thứ bảy, 21/07/2018 | 18:11 GMT+7

Công nghệ cao (CNC) là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng và giá trị gia tăng cao; có khả năng hình thành các ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hoá ngành sản xuất, dịch vụ hiện có; nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Sự ra đời và phát triển CNC đã tạo ra những bước phát triển đột phá trong sản xuất, trong đời sống xã hội của nhiều nước trên thế giới; làm cho ưu thế về nguồn nhân công rẻ, nguyên liệu dồi dào của các nước đang phát triển bị mất dần trước sức cạnh tranh của sản phẩm CNC từ các nước công nghiệp phát triển. Khai thác, ứng dụng và nghiên cứu phát triển các ngành công nghiệp CNC đã được nhiều quốc gia tiến hành và đã mang lại những bước tiến nhảy vọt về kinh tế cũng như nâng cao tiềm lực Khoa học và Công nghệ của mình.

Tuy nhiên, phát triển công nghiệp CNC vừa phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của từng nước vừa có tính lịch sử, do đó đa số các nước, theo từng giai đoạn phát triển đều phải lựa chọn và xác định đúng các ngành công nghiệp CNC phù hợp để có chương trình, kế hoạch cũng như cơ chế, chính sách phát triển hợp lý. Tập trung phát triển theo lộ trình thích hợp, không dàn trải, do đòi hỏi huy động nguồn lực lớn và phải đảm bảo tính hiệu quả.

Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao là một chương trình thành phần được phân công cho Bộ Công Thương xây dựng trong tổng thể chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đã được phê duyệt và ban hành theo Quyết định số 2457/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ.

“Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao có mục tiêu ứng dụng hiệu quả công nghệ cao trong công nghiệp và dịch vụ; hình thành và phát triển các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, dịch vụ công nghệ cao, một số ngành công nghiệp công nghệ cao ở nước ta”.

 

PHẦN I. TỔNG QUAN VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

I.1. Sự cần thiết xây dựng chương trình

Sự phát triển nhanh và có tính đột biến của khoa học và công nghệ trên thế giới trong những năm qua, đặc biệt là CNC đã đem đến những thay đổi có tính cách mạng về cuộc sống của nhân loại trên toàn thế giới. Nhờ những đóng góp to lớn của CNC, của cải và phúc lợi xã hội của nhiều nước trên thế giới tăng đột biến, chất lượng cuộc sống được tăng cao, lối sống và phương thức sản xuất biến đổi tích cực và có những biến đổi lớn về chất.

CNC cũng được nhiều quốc qua trên thế giới, dù là nước đã phát triển hay còn ở bước đầu của giai đoạn đang phát triển sử dụng như là vũ khí chiến lược nhằm đảm bảo vị thế của mình trên thế giới cũng như an ninh quốc gia.

Cùng với xu hướng đó của nhân loại, Đảng và Nhà nước ta đã quyết tâm đẩy nhanh ứng dụng và phát triển CNC ở nước ta nhằm góp phần quan trọng cho việc đạt được mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa vào năm 2020. Cụ thể hóa quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển CNC, các chính sách đẩy nhanh ứng dụng và phát triển CNC ở nước ta được xác định trong Luật Công nghệ cao, trong đó Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao là một biện pháp quan trọng.

Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao được xây dựng trên cơ sở bám sát các nội dung được quy định cho Chương trình quốc gia phát triển CNC trong Luật Công nghệ cao:

a) Xây dựng lộ trình, biện pháp ứng dụng, phát triển công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao trong Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển;

b) Lựa chọn đề tài, dự án, đề án để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại điểm a khoản này;

c) Phát triển nhân lực công nghệ cao;

d) Hỗ trợ tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động công nghệ cao theo mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao;

đ) Các nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ quy định.

tập trung huy động các nguồn lực của nhà nước và toàn xã hội và lấy doanh nghiệp là trung tâm nhằm thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng để tạo ra công nghệ cao, sản phẩm CNC và hình thành, phát triển công nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam.

Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao là một trong các chương trình thành phần và phân công cho Bộ Công Thương xây dựng trong tổng thể chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đã được phê duyệt và ban hành theo Quyết định số 2457/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ.

“Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao có mục tiêu ứng dụng hiệu quả công nghệ cao trong công nghiệp và dịch vụ; hình thành và phát triển các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, dịch vụ công nghệ cao, một số ngành công nghiệp công nghệ cao ở nước ta với các nội dung được nêu tại II.2.a và II.3” của quyết định 2457/QĐ-TTg nói trên.

I.2. Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Từ kinh nghiệm của các nước có thể rút ra một số kinh nghiệm sau cho sự phát triển CNC cho Việt Nam:

a) Các nước, dù là nước đã phát triển hay đang phát triển đều có các nỗ lực phát triển CNC nhằm phục vụ các mục tiêu chính trị, kinh tế hay xã hội phù hợp với điều kiện của từng nước. Đối với nước ta, với nguồn lực hạn chế cần xác định các lĩnh vực ưu tiên trong ứng dụng và phát triển công nghệ cao để tập trung đầu tư. Phù hợp với xu thế phát triển CNC chung trên thế giới, Việt nam trước hết vẫn cần tập trung lựa chọn một số công nghệ cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa, công nghệ vật liệu mới để tập trung đầu tư.

b) Các nước đều có các chương trình liên quan đến CNC với mục tiêu cụ thể để phục vụ cho sự phát triển của đất nước, Vì vậy, Chương trình phát triển CNC của Việt Nam cũng phải gắn chặt với các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong các giai đoạn sắp tới.

c) Không thể có CNC nếu không có việc nghiên cứu, làm chủ công nghệ và chuyển giao công nghệ. Tiếp cận, chuyển giao, làm chủ nhanh chóng các công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ nguồn thông qua con đường hợp tác và hội nhập quốc tế là con đường hiệu quả và rút ngắn, đồng thời phải có những nỗ lực nghiên cứu làm chủ tiến tới sáng tạo được công nghệ.

d) Các doanh nghiệp khoa học và công nghệ có quy mô vừa và nhỏ là lực lượng chủ yếu cho phát triển các công nghệ cao mới, đồng thừoi các doanh nghiệp lớn có tác dụng lôi kéo, kích thích, tạo thị trường cho các doanh nghiệp khao học vừa và nhỏ. Vì vậy, cần tập trung ươm tạo CNC, ươm tạo doanh nghiệp CNC, đồng thời khuyến khích hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ của các doanh nghiệp lớn.

đ) Phát triển CNC đòi hỏi vốn lớn và có rủi ro cao, vì vậy cần huy động các nguồn lực xã hội, tập trung đầu tư phát triển công nghệ cao và phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm cho phát triển CNC.

 

PHẦN II. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO ĐẾN NĂM 2020

II.1. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN

II.1.1. Quan điểm phát triển

· Phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao nhằm tạo ra sự thay đổi trong cơ cấu các ngành công nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp công nghệ cao trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp, trong đó ứng dụng các công nghệ cao vào sản xuất công nghiệp là cơ bản;

· Đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao là lĩnh vực đầu tư cần nguồn lực lớn, có thể có giá trị gia tăng cao nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, do đó phát triển công nghiệp công nghệ cao không thể đồng thời trên diện rộng mà cần lựa chọn những lĩnh vực và sản phẩm phù hợp và có lợi thế so với các nước khác;

· Phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao phải xuất phát từ yêu cầu thực tế, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, phát huy tối đa tiềm năng trí tuệ con người Việt Nam, đồng thời phù hợp với xu thế phát triển của khoa học và công nghệ trên thế giới; Phải phát huy mạnh mẽ nội lực, kết hợp với mở rộng hợp tác quốc tế có lựa chọn trọng điểm nhằm thu hút đầu tư, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhanh chóng làm chủ các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới;

· Phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao phải đồng bộ với việc phát triển công nghiệp hỗ trợ  cho phát triển công nghiệp công nghệ cao (sau đây gọi là công nghiệp hỗ trợ ) và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực công nghệ cao;

II.1.2. Mục tiêu phát triển

Mục tiêu chung:

a) Ứng dụng hiệu quả công nghệ cao trong công nghiệp và dịch vụ;

b) Hình thành và phát triển các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, dịch vụ công nghệ cao, một số ngành công nghiệp công nghệ cao ở nước ta.

Mục tiêu cụ thể:

- Trong giai đoạn đến năm 2020, đối với các ngành công nghiệp, tập trung phát triển một số chương trình công nghiệp công nghệ cao:

o   Chương trình phát triển công nghiệp cơ điện tử.

o   Chương trình phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo.

o   Chương trình phát triển công nghiệp vật liệu mới.

o   Chương trình ứng dụng công nghệ sinh học trong công nghiệp chế biến.

- Đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, kỹ thuật viên lành nghề đáp ứng được nhu cầu phát triển các chương trình nói trên.

- Hình thành mạng lưới các cơ sở nghiên cứu, dự báo, đón đầu các xu hướng mới ; tiếp nhận chuyển giao công nghệ; đào tạo; sản xuất, cung ứng dịch vụ công nghệ cao theo các chương trình nói trên.

II.2. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH

II.2.1. Ứng dụng công nghệ cao trong công nghiệp và dịch vụ

Tổ chức xây dựng và triển khai các dự án ứng dụng công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển trong công nghiệp và dịch vụ:

Chế tạo các thiết bị đo, điều khiển tự động, thiết bị y - sinh cho phát triển ngành điện tử và tin học. Nâng cao năng lực chế tạo máy, đặc biệt là chế tạo máy động lực, máy công cụ có độ chính xác cao. Nâng cao độ tinh khiết và tính năng của các sản phẩm trong luyện kim, đặc biệt các sản phẩm từ nguồn tài nguyên trong nước.

Nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm, bảo đảm tốt môi trường sinh thái và tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp hóa chất, dược phẩm, chế biến thực phẩm.

Hiện đại hóa các nhà máy điện hiện có, xây dựng các nhà máy điện mới; tạo các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân; giảm tổn thất điện năng trong truyền tải và phân phối; nâng cao hiệu quả điều khiển, điều độ và quản lý hệ thống điện; sản xuất thiết bị tiết kiệm năng lượng.

Tạo ra các dịch vụ có chất lượng và giá trị gia tăng cao. Phát triển các dịch vụ mới như dịch vụ xây dựng hạ tầng kỹ thuật và truyền dữ liệu vệ tinh; dịch vụ xử lý ảnh vệ tinh; dịch vụ tính toán đám mây. Nâng cao hiệu quả của dịch vụ tích hợp hệ thống; dịch vụ thiết kế cổng thông tin; dịch vụ thanh toán điện tử, thanh toán trực tuyến, ngân hàng di động, ngân hàng qua Internet; dịch vụ xác định trình tự và giám định gen; dịch vụ thử nhanh phát hiện vi sinh vật nguy hại và độc tố.

II.2.2. Xây dựng và phát triển công nghiệp công nghệ cao

Tổ chức xây dựng và triển khai các dự án, nhiệm vụ để hình thành và phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao.

a) Nâng cao năng lực, hiệu quả, đổi mới công nghệ và đẩy mạnh sản xuất sản phẩm công nghệ cao để đến năm 2020 đáp ứng khoảng 45% nhu cầu sản phẩm công nghệ cao thiết yếu của nước ta. Công nghiệp hỗ trợ  đáp ứng mục tiêu nội địa hóa khoảng 50% về giá trị trong các sản phẩm công nghiệp công nghệ cao sản xuất trong nước.

b) Hình thành, phát triển các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển.

c) Phát triển nhanh công nghiệp công nghệ thông tin: chế tạo được một số thiết bị máy tính, truyền thông, phần mềm và dịch vụ thương hiệu Việt Nam đáp ứng nhu cầu trong nước, mở rộng xuất khẩu tại các thị trường mà Việt Nam có lợi thế. Phát triển nhanh một số doanh nghiệp mạnh về dịch vụ công nghệ thông tin, sản xuất thiết bị thông tin và truyền thông, phần mềm và nội dung số, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Đẩy mạnh các dịch vụ cung cấp thông tin và sản phẩm đa phương tiện trên mạng.

d) Hình thành, phát triển các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ để từng bước hình thành công nghiệp công nghệ sinh học, công nghiệp vật liệu mới, công nghiệp sản xuất thiết bị tự động hóa.

đ) Phát triển nhanh các dịch vụ công nghệ cao mới trong viễn thông, truyền hình, ngân hàng, tài chính, y tế, đào tạo, môi trường, khoa học và công nghệ và một số lĩnh vực kinh tế, xã hội khác.

e) Hình thành các cụm công nghiệp, dịch vụ công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao; chuyển dịch cơ cấu các khu công nghiệp, khu chế xuất theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất sản phẩm công nghệ cao, dịch vụ công nghệ cao.

g) Hình thành mạng lưới phát triển sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao chuyên ngành đáp ứng nhu cầu của thị trường, liên kết chuyên ngành về nghiên cứu - sản xuất - thị trường, tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu.

h) Xây dựng và triển khai kế hoạch tổng thể, kế hoạch 5 năm và hằng năm về phát triển công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ công nghệ cao. Hình thành hệ thống chỉ tiêu thống kê công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ công nghệ cao. 

II.2.3. Lựa chọn các công nghệ cao để áp dụng, các sản phẩm CNC ưu tiên phát triển

Đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao là lĩnh vực đầu tư đòi hỏi vốn lớn, có thể có giá trị gia tăng cao nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro, do đó với tiềm lực có hạn, trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 cần lựa chọn một số lĩnh vực nhất định để tập trung phát triển. Các lĩnh vực lựa chọn phải đáp ứng một số tiêu chí sau:

- Nhanh chóng ứng dụng các công nghệ cao hiện đã phổ biến trên thế giới vào các ngành công nghiệp để tăng nhanh trình độ công nghệ sản xuất trong nước;

- Các công nghệ cao mới cần lựa chọn trên cơ sở các lợi thế quốc gia và xu hướng phát triển chung của thế giới;

- Phù hợp với nguồn lực hiện có (nguồn nhân lực, tài chính, cơ sở hạ tầng...).

Xuất phát từ quan điểm này, cần lựa chọn một số sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục khuyến khích phát triển để xây dựng các Dự án đầu tư, cụ thể:

Trong lĩnh vực cơ điện tử và tự động hoá:

Phát triển sản xuất sản phẩm công nghiệp công nghệ cao bằng cách áp dụng công nghệ thiết kế và chế tạo với sự  trợ giúp của máy tính, các hệ thống sản xuất linh hoạt, sản xuất tích hợp, điều khiển, giám sát, thu thập và xử lý số liệu (SCADA), điều khiển số bằng máy tính (CNC), tự động hoá đo lường và xử lý thông tin; Công nghệ rô bốt, đặc biệt là rô bốt thông minh và rô bốt song song; Công nghệ chế tạo một số sản phẩm cơ điện tử; Công nghệ thiết kế, chế tạo các hệ điều khiển nhúng; Kỹ thuật mô phỏng, đặc biệt là công nghệ tạo mẫu ảo; Công nghệ cơ điện tử mới, có triển vọng như các hệ vi cơ - điện tử (MEMS) và hệ nano cơ - điện tử (NEMS). Phấn đấu đến năm 2020 ngành cơ khí sản xuất, lắp ráp đáp ứng khoảng 25 - 30% nhu cầu về máy gia công điều khiển số bằng máy tính cho các ngành kinh tế quốc dân;

Chú trọng phát triển sản xuất các sản phẩm điện tử y tế. Với một đất nước gần 90 triệu dân, nhu cầu về thiết bị y tế phục vụ khám chữa bệnh là rất lớn. Hơn nữa, thị trường thiết bị y tế là thị trường rộng, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Thiết bị y tế do các nước phát triển sản xuất có giá rất cao, khó có thể đáp ứng các thị trường của các nước đang phát triển, nghèo, thu nhập thấp.

Áp dụng công nghệ cao để sản xuất các loại thiết bị y tế thiết yếu, trước mắt phục vụ nhu cầu trong nước, về lâu dài, hướng tới xuất khẩu là định hướng đúng đắn có tính nhân văn cao.

Sản phẩm trước mắt tập trung nghiên cứu chế tạo là các thiết bị chiếu chụp, phục vụ chẩn đoán hình ảnh như máy chụp X quang, máy siêu âm màu, máy điện não, chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ, thiết bị laser y tế và các dụng cụ tinh xảo khác. Phấn đấu đến năm 2020 đáp ứng khoảng 70% các trang thiết bị y tế thiết yếu cho nhu cầu trong nước.

Công nghiệp hỗ trợ cho lĩnh vực này là sản xuất các loại vật liệu như hợp kim đặc biệt dùng trong y tế, dùng chế tạo các loại dao cụ, khuôn mẫu; các loại compozit nền kim loại sử dụng trong kỹ thuật điện, điện tử và y - sinh; các loại chíp, đặc biệt là chip vi xử lý, chip điều khiển trong thiết bị di động, chip truyền dữ liệu... phục vụ công nghiệp điện tử và tự động hoá.

Lĩnh vực năng lượng mới và năng lượng tái tạo:

Mặc dù trong thời điểm hiện nay suất đầu tư vào sản xuất các loại năng lượng mới và năng lượng tái tạo như năng lượng hạt nhân, năng lượng gió, năng lượng mặt trời còn cao nhưng Việt Nam với lợi thế của vùng nhiệt đới gió mùa, lượng gió và lượng nắng cao, đồng thời với xu hướng ngày càng cạn kiệt của năng lượng hoá thạch, đi vào lĩnh vực năng lượng mới và năng lượng tái tạo là xu hướng tất yếu đối với các quốc gia như Việt Nam.

Sản phẩm là các nhà máy điện hạt nhân, các nhà máy, thiết bị phát điện từ năng lượng gió, mặt trời. Theo Quyết định số 1208 ngày 21/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ, Quy hoạch điện VII, đến năm 2020, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu cả nước vào khoảng 330 -  362 tỷ kWh. Trong dó, nguồn năng lượng tái tạo nâng từ mức 3,5% năm 2010 lên 4,5% vào năm 2020 và đạt 6% vào năm 2030. Các nguồn năng lượng như điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối… sẽ được  phát  triển nhanh,  từng buớc gia tăng tỷ trọng.  Ðưa tổng công suất  nguồn diện sử dụng năng lượng tái tạo (không kể thủy điện nhỏ)  từ mức không đáng kể nhu hiện nay lên khoảng 1.160MW với điện năng sản xuất chiếm tỷ trọng xấp xỉ 0,7%; phát triển điện sinh khối, đồng phát điện tại  các  nhà  máy  đường  có  tổng  công suất  khoảng  500MW với  tỷ  trọng  điện sản xuất khoảng 0,6%.

Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho lĩnh vực này trước mắt là các bộ biến đổi thông minh từ năng lượng gió và mặt trời (smart solar/wind inverter); Tấm pin năng lượng mặt trời thông minh kết nối lưới điện...

Lĩnh vực công nghệ vật liệu mới:

Để sản xuất các sản phẩm công nghiệp công nghệ cao không thể thiếu các loại vật liệu có tính năng đặc biệt như các loại thép hợp kim dùng trong y tế, dùng chế tạo các loại dao cụ cho sản xuất cơ khí, các compozit nền kim loại sử dụng trong kỹ thuật điện, điện tử và y - sinh; các vật liệu na nô, vật liệu điện tử và quang tử. Phấn đấu đến năm 2020 đáp ứng được khoảng 70% các loại thép hợp kim dùng trong y tế và dùng trong chế tạo các loại dao cụ cho sản xuất cơ khí.

Lĩnh vực công nghệ sinh học:

Ứng dụng công nghệ sinh học trong công nghiệp chế biến, trong sản xuất nhiên liệu sinh học, trong ngành hóa dược. Phấn đấu đến năm 2020, công nghệ sinh học sẽ đóng góp trên 40% tổng số đóng góp của khoa học và công nghệ vào giá trị gia tăng của ngành công nghệ chế biến; Sản lượng ethanol và dầu thực vật đạt 1,8 triệu tấn, đáp ứng khoảng 5% nhu cầu xăng dầu của cả nước; ngành hoá dược hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng Dự án sản xuất kháng sinh công suất 300 tấn/năm, Dự án sorbitol 10.000 tấn/năm, Dự án nhà máy sản xuất tá dược cao cấp 150 tấn/năm để chủ động sản xuất thuốc chữa bệnh ở trong nước.

II.2.3. Các chương trình, dự án, đề án tiêu biểu

Phân theo các nhóm chính sau đây: các chương trình trọng điểm; các dự án đầu tư vào công nghiệp công nghệ cao được ưu tiên; các dự án liên quan đến sản xuất sản phẩm công nghệ cao được ưu tiên, khuyến khích đầu tư.

 

CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG ĐIỂM

- Chương trình phát triển công nghiệp cơ điện tử. (tích hợp cộng năng của cơ khí chính xác,điều khiển học, tin học công nghiệp).

- Chương trình phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo.

- Chương trình phát triển công nghiệp vật liệu mới.

- Chương trình ứng dụng công nghệ sinh học trong công nghiệp chế biến.

 

DANH MỤC CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀO CÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO ĐƯỢC ƯU TIÊN

Cơ điện tử

1. Nhà máy sản xuất các thiết bị cơ điện tử, điện tử y tế.

2. Nhà máy chế tạo robot.

3. Nhà máy chế tạo các thiết bị đo lường, các cơ cấu chấp hành, các bộ điều khiển và giám sát tự động cho các hệ thống thiết bị đồng bộ trong các nhà máy lọc hoá dầu, nhà máy điện, nhà máy xi măng, dây chuyền sản xuất, chế biến thực phẩm, dược phẩm.

4. Nhà máy chế tạo các loại chip chuyên dụng cho các cơ cấu đo lường và các hệ điều khiển.

5. Nhà máy chế tạo các hệ thống vi cơ điện tử (MEMS), hệ thống nano cơ điện tử (NEMS) và cảm biến theo nguyên lý mới.

6. Nhà máy gia công chính xác cao kết hợp ứng dụng các công nghệ gia công tiên tiến, phi truyền thống, các công nghệ lai; ứng dụng công nghệ tạo hình biến dạng tiên tiến, phi truyền thống sản xuất thân vỏ, cơ cấu đáp ứng yêu cầu ngày càng thu gọn, tinh xảo trong các sản phẩm cơ điện tử.

7. Nhà máy sản xuất pin, ắc quy có hiệu năng cao cho các thiết bị thông tin và truyền thông, cho các thiết bị có yêu cầu cơ động cao (các robot dịch vụ,...).

 

Năng lượng mới, năng lượng tái tạo

8. Nhà máy sản xuất bộ biến đổi thông minh từ năng lượng gió và mặt trời (Smart solar/wind  inverter), các thiết bị và trạm phát điện dùng năng lượng gió, mặt trời, thuỷ triều.

9. Nhà máy điện hạt nhân thế hệ mới, độ an toàn cao.

 

Vật liệu mới

10. Nhà máy sản xuất vật liệu siêu bền, siêu nhẹ, thân thiện với môi trường hoặc sử dụng trong môi trường khắc nghiệt.

11. Nhà máy sản xuất sơn chuyên dụng cao cấp, thân thiện với môi trường.

12. Nhà máy sản xuất vật liệu polyme tổ hợp và polyme compozit chất lượng cao, bền với khí hậu nhiệt đới.

13. Nhà máy chế tạo cao su kỹ thuật, cao su tổng hợp chuyên dụng cho chế tạo máy, điện, điện tử, an ninh quốc phòng.       

14. Nhà máy sản xuất gốm sứ kỹ thuật cao cấp cho công nghiệp điện, điện tử, chế tạo máy.

15. Nhà máy chế tạo vật liệu sợi thuỷ tinh đặc biệt, sợi quang, sợi cacbon.

 

Công nghệ sinh học trong công nghiệp chế biến

16. Nhà máy sản xuất Protein, enzym tái tổ hợp sử dụng trong dược phẩm, thực phẩm, công nghiệp và xử lý môi trường.

17. Nhà máy sản xuất chế phẩm vi sinh vật ứng dụng trong y tế, nông nghiệp, công nghiệp và bảo vệ môi trường.

 

DANH MỤC CÁC DỰ ÁN LIÊN QUAN ĐẾN SẢN XUẤT SẢN PHẨM CÔNG NGHỆ CAO ĐƯỢC ƯU TIÊN, KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ

Cơ điện tử

1. Hệ thống vi cơ điện tử (MEMS), hệ thống nano cơ điện tử (NEMS) và thiết bị sử dụng hệ thống vi cơ điện tử, hệ thống nano cơ điện tử.

2. Pin, ắc quy có hiệu năng cao cho các thiết bị thông tin và truyền thông, các thiết bị có tính cơ động cao.

3. Robot công nghiệp chuỗi hở; Robot song song có 3 bậc tự do trở lên.

4. Bộ điều khiển số (CNC) cho các máy công cụ và các máy gia công chế tạo.

5. Động cơ AC servo chuyên dụng, hệ truyền động servo nhiều trục, hộp giảm tốc có độ chính xác cao cho robot và máy CNC.

6. Thiết bị và hệ thống tự động chuyên dụng cho các loại cẩu trọng lực, trọng tải lớn.

7. Hệ thống tự động cân bằng trong tầu thuỷ.

8. Hệ thống thiết bị đo lường, các cơ cấu chấp hành, các bộ điều khiển và giám sát tự động cho các hệ thống thiết bị đồng bộ trong các nhà máy lọc hoá dầu, nhà máy điện, nhà máy xi măng, dây chuyền sản xuất thực phẩm, dược phẩm, nông nghiệp.

9. Chip chuyên dụng cho các cơ cấu đo lường, chấp hành và bộ điều khiển. Cảm biến và cơ cấu chấp hành thông minh.

10. Phần mềm nền tảng chuyên dụng cho đo lường và điều khiển.

11. Thiết bị y tế kỹ thuật số: máy X quang, máy siêu âm màu, máy điện não. Thiết bị laser y tế. Động cơ, máy khoan dùng cho nha khoa.

 

Năng lượng mới, năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

12. Hệ thống điều khiển truyền tải, phân phối điện thông minh

13. Bộ biến đổi thông minh từ năng lượng gió và mặt trời (Smart solar/wind  inverter). Tấm pin năng lượng mặt trời thông minh kết nối điện lưới và Internet.

14. Thiết bị và trạm phát điện dùng năng lượng gió, mặt trời, thuỷ triều.

15. Thiết bị biến đổi điện tử công suất dùng cho trạm phát điện năng lượng tái tạo, truyền tải điện thông minh, động cơ chuyên dụng, các loại cẩu trọng lực, trọng tải lớn, tàu thủy, giao thông.

 

Vật liệu mới

16. Vật liệu nano cho công nghiệp, nông nghiệp, y tế, sinh học và môi trường; nano compozit cho một số ngành công nghiệp.

17. Vật liệu linh kiện vi cơ điện tử và cảm biến theo nguyên lý mới.

18. Vật liệu quang điện tử (optoelectronics) và quang tử (photonics) phục vụ cho viễn thông, tự động hóa, robot, hiển thị phẳng phân giải cao, chiếu sáng hiệu suất cao, tiết kiệm năng lượng.

19. Vật liệu siêu dẻo, siêu dẫn. Vật liệu siêu bền, siêu nhẹ, thân thiện với môi trường cho xây dựng.

20. Thép hợp kim không gỉ, hợp kim bền nóng, chịu mài mòn, chịu ăn mòn. Hợp kim đặc biệt dùng cho công nghiệp, ngành điện, đóng tàu, khí tài quân sự.

21. Vật liệu compozit nền kim loại, compozit nền cao phân tử dùng cho kỹ thuật điện, điện tử sử dụng trong môi trường khắc nghiệt.

22. Ống compozit chịu áp lực cao và chống ăn mòn hóa chất dùng cho công nghiệp đóng tàu và các ngành công nghiệp khác.

23. Nhựa kỹ thuật độ bền kéo và module đàn hồi cao. Bánh răng, hộp giảm tốc, chi tiết cơ khí bằng nhựa kỹ thuật.

24. Vật liệu cao su kỹ thuật, cao su tổng hợp chuyên dụng phục vụ cho chế tạo máy, điện, điện tử, an ninh quốc phòng.

25. Vật liệu gốm sứ kỹ thuật cho công nghiệp điện, điện tử. Gốm ôxit zircon (thay ôxit nhôm, gốm ôxit titan, gốm cho động cơ đốt trong).

26. Vật liệu phục vụ quá trình thu, lưu trữ và chuyển hóa các nguồn năng lượng mới.

 

Công nghệ sinh học trong công nghiệp chế biến

27. Protein, enzym tái tổ hợp sử dụng trong dược phẩm, thực phẩm, công nghiệp và xử lý môi trường.

28. Chế phẩm vi sinh vật dùng trong nông nghiệp, xử lý môi trường (đạt tiêu chuẩn quốc tế).

29. Nhiên liệu sinh học được sản xuất bằng công nghệ sinh học từ tảo, phế phẩm nông nghiệp, chất thải.

 

II.3. GIẢI PHÁP VÀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH

Trong khoảng 15 năm vừa qua, tuy chưa được đầu tư một cách mạnh mẽ, nhưng những kết quả mà các hoạt động NC&PT về công nghệ cao và SXKD của các doanh nghiệp công nghiệp công nghệ cao đạt được đã có những đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển chung của nền kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, bảo vệ môi trường và phục vụ xuất khẩu.

Hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập mạnh mẽ, cùng với sự phát triển nhanh chóng và hiệu quả của các lĩnh vực công nghệ cao trên thế giới đã và đang tạo các điều kiện rất thuận lợi cho việc đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ  cho công nghiệp công nghệ cao ở nước ta.

Tuy nhiên, để tận dụng các cơ hội và vượt qua những trở ngại về tiềm lực kinh tế, về năng lực nội sinh KH&CN, nhằm tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp công nghệ cao tiếp tục phát triển và có những đóng góp thiết thực, hiệu quả vào sự nghiệp phát triển và bảo vệ đất nước, đặc biệt trong tình hình thế giới và trong nước hiện nay, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu “đến năm 2020 đưa nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, cần thiết phải tổ chức thực hiện một cách có hiệu quả một loạt các nhóm giải pháp chủ yếu sau đây:

1. Nhóm giải pháp và chính sách về phát triển sản xuất

a) Về ứng dụng công nghệ cao để đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ:

Trên cơ sở các Dự án ứng dụng công nghệ cao, xem xét, cho phép các tổ chức, cá nhân thực hiện dự án được hưởng các ưu đãi cao nhất theo quy định của Luật Công nghệ cao, đồng thời hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước để mua quyền sở hữu công nghiệp, bản quyền phần mềm, bí quyết công nghệ, đào tạo, hướng dẫn, nắm vững và làm chủ công nghệ, thuê chuyên gia tư vấn kỹ thuật, thiết kế, đánh giá giám định công nghệ.

Được hưởng các ưu đãi của Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia phê duyệt theo quyết định số 677/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 10 tháng 5 năm 2011.

b) Về nghiên cứu khoa học và công nghệ và nhập khẩu công nghệ mới để sản xuất các sản phẩm thuộc Danh mục ưu tiên khuyến khích phát triển:

- Hỗ trợ doanh nghiệp kinh phí từ ngân sách nhà nước cho nghiên cứu khoa học và công nghệ để tạo ra công nghệ mới, cho nhập khẩu các công nghệ mới thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao ưu tiên đầu tư phát triển, thông qua một số chương trình nghiên cứu KHCN trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011-2015 (và tiếp theo ở giai đoạn sau) có liên quan:

+ Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông (KC.01/11-15)

+ Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ vật liệu mới  (KC.02/11-15)

+ Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ cơ khí và tự động hóa(KC.03/11-15)

+ Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sinh học (KC.04/11-15)

+ Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ năng lượng   (KC.05/11-15)

+ Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ phục vụ sản xuất các sản phẩm chủ lực (KC.06/11-15)

+ Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sau thu hoạch (KC.07/11-15)

+ Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên (KC.08/11-15)

+ Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến phục vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng (KC.10/11-15)

- Được hỗ trợ từ “Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2011-2015” được phê duyệt theo quyết định số 2204/QĐ-TTg ngày 06/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

- Được hỗ trợ theo các điều khoản của Luật Chuyển giao công nghệ số 80/2006/QH11 của Quốc hội.

- Xây dựng hệ thống các phòng đo kiểm chất lượng sản phẩm công nghiệp công nghệ cao theo tiêu chuẩn quốc tế. Tư vấn, hướng dẫn, hỗ trợ cho các doanh nghiệp tham gia chương trình xây dựng hệ thống quản lý chất lượng. Hướng dẫn đăng ký sở hữu công nghiệp và đăng ký nhãn hàng.

2. Nhóm giải pháp và chính sách về phát triển công nghiệp hỗ trợ  và dịch vụ

- Xây dựng quy hoạch công nghiệp hỗ trợ công nghiệp công nghệ cao trên cả nước, đồng thời có cơ chế ưu đãi thu hút đầu tư trong nước, ngoài nước đầu tư xây dựng Khu công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ;

- Hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho công tác xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu công nghiệp hỗ trợ công nghiệp công nghệ cao và của toàn ngành công nghiệp; Xây dựng các TCVN, QCVN cho các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ  công nghiệp công nghệ cao phù hợp giai đoạn hội nhập nhằm đảm bảo tính thương mại toàn cầu hoá của các sản phẩm CNPT.

- Được hưởng các ưu đãi phù hợp với Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ngày 24 tháng 02 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ.

3. Nhóm giải pháp và chính sách về đào tạo nguồn nhân lực

- Cải tiến mạnh mẽ phương pháp đào tạo và chương trình giảng dạy tại các khoa điện tử - viễn thông, công nghệ vật liệu, tự động hoá, cơ điện tử ...của các trường đại học và cao đẳng kỹ thuật. Đẩy mạnh đào tạo đội ngũ các nhà quản lý, đội ngũ kỹ thuật viên và thợ lành nghề. Tiếp thu có chọn lọc chương trình, kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp công nghệ cao từ  nước ngoài, liên kết chặt chẽ với các tổ chức và cơ sở đào tạo có uy tín của thế giới và khu vực để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

- Có cơ chế khuyến khích áp dụng mô hình đào tạo liên kết 3 bên (doanh nghiệp -viện, trường - cơ quan quản lý nhà nước) để đào tạo nguồn nhân lực tay nghề cao theo yêu cầu của doanh nghiệp, trong đó cơ sở đào tạo đặt dưới sự quản lý của doanh nghiệp hoặc khu công nghiệp, khu công nghệ cao.

- Giải quyết thoả đáng mối liên quan giữa đào tạo, sử dụng và đãi ngộ; giữa đào tạo và đào tạo lại. Có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong ngành công nghiệp ứng dụng công nghệ cao tự tổ chức đào tạo nguồn nhân lực.

- Thụ hưởng các kết quả của Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 phê duyệt theo quyết định số 579/QĐ-TTG ngày 19 tháng 04 năm 2011,  Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 theo quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22 tháng 07 năm 2011 và Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Khoa học và Công nghệ  giai đoạn 2011-2020 theo quyết định số 4009/QĐ-BKHCN ngày 29 tháng 12 năm 2011.

4. Nhóm giải pháp và chính sách về thị trường

Đối với các dự án đầu tư có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước cần ưu tiên xét chọn các sản phẩm được chế tạo trong nước với cùng chỉ tiêu chất lượng và giá cả tương đương sản phẩm cùng loại được nhập khẩu;

Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho các công tác: truyền thông (quảng cáo, trình diễn giới thiệu công nghệ, tham gia sàn giao dịch, hội chợ, triển lãm), tiếp thị, nâng cao năng lực.

Được hỗ trợ chuẩn hoá kiểm nghiệm sản phẩm, áp dụng các công cụ quản lý tiên tiến, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu, hoặc tham gia đấu thầu trong nước và quốc tế.

Được bảo hộ thông qua các biện pháp hợp lệ cụ thể hoá từ Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 160/2008/QĐ-TTG ngày 04 tháng 12 năm 2008 phê duyệt chiến lược tổng thể và chính sách bảo hộ sản xuất công nghiệp trong nước phù hợp các cam kết quốc tế, quy định của WTO giai đoạn đến năm 2020.

5. Nhóm giải pháp và chính sách về vốn

Đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao cần có nguồn vốn lớn, do đó cần có cơ chế chính sách để thu hút vốn từ các nguồn khác nhau, trong đó:

- Vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ cho việc nghiên cứu khoa học và công nghệ, ươm tạo CNC, mua CNC, đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến thương mại, mua quyền sở hữu công nghiệp, bản quyền phần mềm, bí quyết công nghệ, đào tạo, hướng dẫn, nắm vững và làm chủ công nghệ, thuê chuyên gia tư vấn kỹ thuật, thiết kế, đánh giá giám định công nghệ cao. Ưu tiên sử dụng vốn vay với lãi suất ưu đãi cao nhất từ Quỹ đầu tư mạo hiểm, Quỹ phát triển khoa học và Công nghệ, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia và Ngân hàng phát triển Việt Nam.

- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào ngành công nghiệp công nghệ cao; đặc biệt là thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài từ các tập đoàn lớn, tập đoàn đa quốc gia và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sản xuất kinh doanh tại Việt Nam.

- Các dự án đầu tư ứng dụng CNC hoặc sản xuất sản phẩm CNC có ý nghĩa và hiệu quả lớn được đưa vào danh mục các dự án ưu tiên được xem xét cấp bảo lãnh chính phủ phù hợp với quyết định số 44/2011/QĐ-TTg ngày 18 tháng 8 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Với các dự án đầu tư cho công nghiệp công nghệ cao và các dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao ưu tiên khuyến khích đầu tư được hưởng các ưu đãi của luật công nghệ cao.

Các dự án ứng dụng công nghệ cao (đổi mới công nghệ, cải tiến sản xuất,…) chủ yếu được hỗ trợ qua các chương trình nghiên cứu Khoa học và công nghệ, các dự án sản xuất thử nghiệm,…

6. Nhóm giải pháp và chính sách về hợp tác quốc tế

Các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế, xúc tiến thương mại, tiếp cận thị trường độc lập hoặc trong khuôn khổ Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, tham gia các hội chợ, triển lãm ở nước ngoài để có thông tin, thị trường, đối tác. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thành lập các chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp hoặc các trung tâm thương mại ở nước ngoài để tìm hiểu về nhu cầu, thị hiếu của thị trường, quảng bá sản phẩm, thương hiệu và ký kết hợp đồng, tổ chức tiêu thụ sản phẩm.

Tuân thủ nghị định 80/2010/NĐ-CP  ngày 14 tháng 07 năm 2010 quy định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.

 

PHẦN III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO ĐẾN NĂM 2020

Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao có mục tiêu ứng dụng hiệu quả công nghệ cao trong công nghiệp và dịch vụ; hình thành và phát triển các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, dịch vụ công nghệ cao, một số ngành công nghiệp công nghệ cao ở nước ta góp phần hiện thực hóa kê hoạch công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đến năm 2020 đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Để chương trình có thể triển khai hiệu quả và đạt được mục tiêu đề ra, Chính phủ cần chỉ đạo các bộ, ngành liên quan như sau:

1. Bộ Công Thương:

Chủ trì chương trình thành phần, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, các Bộ, ngành, địa phương và cơ quan có liên quan tổ chức thực hiện có hiệu quả, đúng tiến độ các nội dung của “Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao đến năm 2020”, trong sự liên kết với các chương trình thành phần khác của Chương trình Quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020, định kỳ hàng năm báo cáo kết quả lên Ban chỉ đạo “Chương trình Quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020”;

2. Bộ Khoa học và Công nghệ:

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi quản lý nhà nước của  mình, phối hợp với Bộ Công Thương phê duyệt và quản lý các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp Nhà nước liên quan đến các Dự án phát triển công nghiệp CNC từ nguồn ngân sách nhà nước; đồng thời phối hợp với Bộ Công Thương ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các quy định về chuyển giao công nghệ đặc thù trong lĩnh vực công nghiệp CNC.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo: 

Chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, Chương trình Quốc gia phát triển CNC và các bộ, ngành liên quan xây dựng nội dung đào tạo và kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực theo các đối tượng: Tổng công trình sư, chuyên gia, kỹ sư, công nhân kỹ thuật có chất lượng cao đảm bảo cung cấp cho các ngành công nghiệp CNC từ nay đến năm 2020.

4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ:

Cân đối, bố trí và hướng dẫn sử dụng vốn để triển khai, thực hiện có hiệu quả và đúng tiến độ các nội dung, nhiệm vụ, dự án ưu tiên phát triển thuộc chương trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

5. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

Căn cứ vào “Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp CNC của Việt Nam đến năm 2020”, phối hợp với Bộ Công Thương để xây dựng Kế hoạch phát triển KT-XH và có định hướng đầu tư của địa phương mình phù hợp.

 

Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ:

Vụ Khoa học và Công nghệ - Bộ Công Thương

Địa chỉ: Tầng 4, 54 Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Điện thoại: 04.22202.438